Tải MP3Tải Dàn Bài


Kinh Thánh:  Lu-ca 1
Câu ghi nhớ:  Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được (Lu-ca 1: 37).
Mục đích:  Ngài đang tìm kiếm những con người để sử dụng cho vương quốc của Ngài.

I.  TÁC GIẢ:
1.  Lu-ca:  Theo lịch sử của Cơ Đốc giáo, Lu-ca là tác giả của Tin Mừng (Tin Lành), theo Sách Lu-ca và sách Công Vụ Các Sứ Đồ, và ông cũng là người người bạn đồng hành của Sứ đồ Phao-lô.
2.  Lời giới thiệu:  Lu-ca 1:1   Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhân, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, 2 theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, 3 vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông, 4 để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn.
(Thê-ô-phi-lơ = Bạn của Đức Chúa Trời hay là Được Đức Chúa Trời yêu mến: Là một tín hữu mà Lu-ca trình bày Tin Mừng của Chúa cho: Lu-ca 1: 1-3; Công Vụ 1: 1).

II. GIA ĐÌNH XA-CHA-RI & Ê-LI-SA-BÉT:  Bà con với Ma-ri
1. Thời điểm sống:  Lu-ca 1:5  Trong đời Hê-rốt, vua nước Giu-đê, Có một thầy tế lễ, về ban A-bi-a, tên là Xa-cha-ri; vợ người là Ê-li-sa-bét, thuộc về chi phái A-rôn.
2.  Tên:
* Hê-rốt (= anh hùng): Ông cai trị vào 40-4 trước CN.
* Xa-cha-ri (= Đức Chúa Trời ghi nhớ).
* Ê-li-sa-bét = Đức Chúa Trời là lời thề (của tôi), hay Đức Chúa Trời là sự dư dật (của tôi)
* A-rôn: Trong gia phả Xuất 6:14:  A-rôn là một trong hai con trai của A-ram và Giô-kê-bết: Cháu bốn đời của Gia-cốp – Lê-vi – Kê-hát – A-ram – A-rôn:  Anh của Môi-se & Mi-ri-am.

III.  ĐỜI SỐNG CỦA XA-CHA-RI VÀ Ê-LI-SA-BÉT:
1.  Người công bình:  Lu-ca 1:6  Cả hai đều là công bình trước mặt Đức Chúa Trời, vâng giữ mọi điều răn và lễ nghi của Chúa một cách không chỗ trách được.
2.  Son sẻ & cao tuổi:  7 Hai người không có con, vì Ê-li-sa-bét son sẻ, và cả hai đều cao tuổi. (Không có con).
3.  Chức vụ:  Lu-ca 1:8  Vả, Xa-cha-ri cứ theo thứ tự trong ban mình mà làm chức tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời.
4.  Công việc:  Lu-ca 1:9  Khi đã bắt thăm theo lệ các thầy cả lập ra rồi, thì người được gọi vào nơi Thánh của Chúa để dâng hương.
5.  Đoàn dân:  Lu-ca 1:10  Đang giờ dâng hương, cả đoàn dân đông đều ở ngoài cầu nguyện.

IV.  XA-CHA-RI GẶP THIÊN SỨ:  Báo tin về sự ra đời của Giăng.
Lu-ca 1:11  Bấy giờ có một thiên sứ của Chúa hiện ra cùng Xa-cha-ri, đứng bên hữu bàn thờ xông hương. (Dâng lên mùi hương thơm cho Chúa = Ngợi khen; thờ phượng).
1. Thái độ của Xa-cha-ri khi gặp thiên sứ:
Lu-ca 1:12  Xa-cha-ri thấy thì bối rối sợ hãi. (Lần đầu tiên gặp thiên sứ).
2.  Được thiên sứ bày tỏ & hướng dẫn:
Lu-ca 1:13a  Nhưng thiên sứ nói cùng người rằng:  Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, 13b vì lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm rồi. Ê-li-sa-bét vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, ngươi khá đặt tên là Giăng. (Báp-tít = Báp tem).
a.  Đừng sợ:  Vì Chúa đem đến sự bình an, vui mừng.
– Áp-ra-ham sợ hãi nên nói dối về Sa-ra – Sáng Thế ký 12: 11-13.
– Gia-cốp sợ hãi khi phải đối diện với Ê-sau – Sáng Thế Ký 32: 6-8.
– Môi-se sợ Pha-ra-ôn – Xuất 2:14.
– Môi-se sợ bị từ chối- Xuất 4: 1.
– Các môn đồ sợ cơn bão tố… – Ma-thi-ơ 8:23-26.
b.  Lời cầu nguyện được nhậm rồi:  13b thời điểm Chúa trả lời.
c.  Sẽ có con trai:  13c (Bị son sẻ quá lâu).
d.  Đặt tên:  13d Giăng = Đức Giê-hô-va tỏ lòng nhân từ.
Hê-bơ-rơ (Yochanan), “YAHWEH is gracious”.
e.  Mục đích:  Sự sinh ra của Giăng:
+. Đem sự vui mừng cho nhiều người:  Lu-ca 1: 14  Con trai đó sẽ làm cho ngươi vui mừng hớn hở, và nhiều kẻ sẽ mừng rỡ về sự sanh người ra. (Y-sác).
+. Được tôn trọng:  Lu-ca 1: 15a  Vì người sẽ nên tôn trọng trước mặt Chúa.
 * Giăng 12: 26  Nếu ai hầu việc Ta, thì phải theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ hầu việc Ta cũng sẽ ở đó; nếu ai hầu việc Ta, thì Cha Ta ắt tôn quí người.
+. Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời:  15b Không uống rượu hay là giống gì làm cho say, và sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. 
 = Người được biệt riêng: Na-xi-rê: cho Đức Chúa Trời.
* Các Quan Xét 13:7  nhưng người có nói cùng tôi rằng:  Kìa, ngươi sẽ thọ thai và sanh một đứa trai; vậy bây giờ, chớ uống rượu hay là vật chi say, và cũng đừng ăn vật gì chẳng sạch; vì đứa trẻ đó, từ trong lòng mẹ cho đến ngày qua đời, sẽ làm người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời.
= Được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
* Ê-phê-sô 5:18  Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh.
f. Chức vụ của Giăng:  Giảng hòa.
+. Làm cho trở lại cùng Đức Chúa Trời:  Lu-ca 1:16  Người sẽ làm cho nhiều con trai Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ. (Tình trạng xa cách Đức Chúa Trời của dân sự).
+. Mặc lấy sự xức dầu của Ê-li: 1:17  chính người lại sẽ lấy tâm thần quyền phép Ê-li mà đi trước mặt Chúa, để đem lòng cha trở về con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, đặng sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng. (Đón tiếp Đấng sẽ hiện đến là Chúa Jesus = Messiah = Mê-si-a = Đấng Chịu Xức Dầu).
* Sự tiên tri về Giăng Báp-tít: Ma-la-chi 4:5  Nầy, Ta sẽ sai đấng tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va chưa đến. 6 Người sẽ làm cho lòng cha trở lại cùng con cái, lòng con cái trở lại cùng cha, kẻo Ta đến lấy sự rủa sả mà đánh đất nầy.
 * 2 Cô-rinh-tô 5:18  Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. (Cho tất cả mọi người)
* Ma-thi-ơ 5:9  Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời! (Dấu hiệu người của Đức Chúa Trời).
3.  Thái độ của Xa-cha-ri khi nhận được tin mừng:
Lu-ca 1:18  Xa-cha-ri thưa rằng:  Bởi sao tôi biết được điều đó? Vì tôi đã già, vợ tôi đã cao tuổi rồi. (Không thể xảy ra được = không thể tin).
* Sáng 18:11  Vả, Áp-ra-ham cùng Sa-ra đã già, tuổi tác đã cao; Sa-ra không còn chi nữa như thế thường người đàn bà. 12 Sa-ra cười thầm mà rằng: Già như tôi thế nầy, dễ còn được điều vui đó sao? Còn chúa tôi cũng đã già rồi! 13 Đức Giê-hô-va phán hỏi Áp-ra-ham rằng: Cớ sao Sa-ra cười như vậy mà rằng: Có quả thật rằng tôi già đến thế nầy lại còn sanh sản chăng? 14 Há có điều chi Đức Giê-hô-va làm không được chăng? Đến kỳ đã định, trong một năm nữa, Ta sẽ trở lại cùng ngươi, và Sa-ra sẽ có một con trai.
4.  Thiên sứ Gáp-ri-ên:
a.  Báo tin mừng:  Lu-ca 1:19  Thiên sứ trả lời rằng: Ta là Gáp-ri-ên, đứng trước mặt Đức Chúa Trời; Ngài đã sai ta đến truyền cho ngươi và báo tin mừng nầy.
b.  Cảnh báo về sự không tin:  20 Nầy, ngươi sẽ câm, không nói được cho đến ngày nào các điều ấy xảy ra, vì ngươi không tin lời Ta, là lời đến kỳ sẽ ứng nghiệm.
5.  Xa-cha-ri Ở lâu trong nơi thánh:  21 Bấy giờ, dân chúng đợi Xa-cha-ri, và lấy làm lạ, vì người ở lâu trong nơi thánh. (Vượt giờ quy định; khác thường)
6.  Hậu quả của sự không tin:  22 Khi Xa-cha-ri ra, không nói với chúng được, thì họ mới hiểu rằng người đã thấy sự hiện thấy gì trong đền thánh; người ra dấu cho họ, mà vẫn còn câm. 23 Khi những ngày về phần việc mình đã trọn, người trở về nhà.
7.  Lời Chúa được thực hiện:  24 Khỏi ít lâu, vợ người là Ê-li-sa-bét chịu thai, ẩn mình đi trong năm tháng, mà nói rằng: 25 Ấy là ơn Chúa đã làm cho tôi, khi Ngài đã đoái đến tôi, để cất sự xấu hổ tôi giữa mọi người. (Không vội cho ai biết!)

V.  BÁO TIN SỰ GIÁNG SINH CỦA ĐỨC CHÚA JESUS:  Cho Ma-ri
1.  Chúa sai Thiên sứ Gáp-ri-ên đến:
a.  Na-xa-rét:  Lu-ca 1:26  Đến tháng thứ sáu, Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa- rét, xứ Ga-li-lê,
b. Tên:  27 tới cùng một người nữ đồng trinh tên là Ma-ri.
c.  Hoàn cảnh:  Đã hứa gả cho một người nam tên là Giô-sép, về dòng vua Đa-vít.
d.  Nhà:  28 Thiên sứ vào chỗ người nữ ở, nói rằng: Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi. (Thi thiên 139)
2.  Thái độ của Mary khi nghe thiên sứ báo tin:  29 Ma-ri nghe nói thì bối rối, tự hỏi rằng lời chào ấy có nghĩa gì. (Chưa hiểu ý của Chúa muốn nói gì!)
3. Thiên sứ giải thích:  30 Thiên-sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. (Được Chúa chọn).
4.  Được giao một chức vụ quan trọng:  Lu-ca 1:31  Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jesus.
5.  Thiên sứ bày tỏ nguồn gốc của Đức Chúa Jesus:
a.  Lu-ca 1: 32  Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. 33 Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng.
b.  Ma-ri trình bày hoàn cảnh của mình cho Thiên sứ:  34 Ma-ri bèn thưa rằng: Tôi chẳng hề nhận biết người nam nào, thì làm sao có được sự đó? (Làm thế nào có thể xảy ra được).
c.  Do quyền năng của Chúa:  35 Thiên sứ truyền rằng: Đức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép Đấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình, cho nên Con Thánh sanh ra, phải xưng là Con Đức Chúa Trời.
6.  Thiên sứ bày tỏ cho Ma-ri về Ê-li-sa-bét:  Người cũng được Chúa làm phép lạ.
Lu-ca 1:36  Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con ngươi, cũng đã chịu thai một trai trong lúc già nua; người ấy vốn có tiếng là son, mà nay cưu mang được sáu tháng rồi.
7.  Thiên sứ bày tỏ cho Ma-ri về Đức Chúa Trời:  Lu-ca 1:37  Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được. (Đấng Toàn Năng).
8.  Thái độ của Ma-ri sau khi hiểu Lời Chúa:
a.  Đồng ý với Lời phán:  Lu-ca 1:38  Ma-ri thưa rằng:  Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền! Đoạn thiên sứ lìa khỏi Ma-ri.
b.  Đi đến nhà người cùng khải tượng:  Không chậm trễ: 39 Trong những ngày đó, Ma-ri chờ dậy, lật đật đi trong miền núi, đến một thành về xứ Giu-đa.

VI.  THÁI ĐỘ CỦA Ê-LI-SA-BÉT KHI GẶP MA-RI:
1.  Cảm nhận sự hiện diện của Chúa:  Lu-ca 1:40  Vào nhà Xa-cha-ri mà chào Ê-li-sa-bét.
2.  Được đầy dẫy Đức Thánh Linh:  41 Vả, Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng Ma-ri chào, con nhỏ ở trong lòng liền nhảy nhót; và Ê-li-sa-bét được đầy Đức Thánh Linh.
3.  Chúc phước:  42 bèn cất tiếng kêu rằng:  Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước.
4.  Thai nhi cảm nhận sự vui mừng của Chúa:  43 Nhân đâu ta được sự vẻ vang nầy, là mẹ Chúa ta đến thăm ta? 44 Bởi vì tai ta mới nghe tiếng ngươi chào, thì con nhỏ ở trong lòng ta liền nhảy mừng.
5.  Được phước vì Lời Chúa:  45 Phước cho người đã tin, vì lời Chúa truyền cho sẽ được ứng nghiệm!

VII.  BÀI CA CỦA MA-RI:
1.  Linh hồn:  Lu-ca 1:46  Ma-ri bèn nói rằng:  Linh hồn tôi ngợi khen Chúa.
2.  Tâm thần:  47 Tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi. (Đấng Cứu Rỗi).
3.  Cảm nhận sự phước hạnh:  48 Vì Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của tôi tớ Ngài. Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước;
4.  Nhận biết Danh Ngài: 49 Bởi Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh Ngài là Thánh.
5.  Nhận biết sự thương xót của Ngài:  50 Và Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang đời kia.
6.  Nhận biết quyền phép của Ngài:
a.  Phá tan kẻ kiêu ngạo:  51 Ngài đã dùng cánh tay mình để tỏ ra quyền phép; và phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo toan trong lòng.
b.  Ngài có quyền trên vương quyền:  52 Ngài đã cách người có quyền khỏi ngôi họ, và nhắc kẻ khiêm nhượng lên.
c.  Ngài có quyền trong cuộc sống:  53 Ngài đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu về tay không.
7.  Ngài thương xót dòng dõi Áp-ra-ham:  54 Ngài đã vùa giúp Y-sơ-ra-ên, tôi tớ Ngài, và nhớ lại sự thương xót mình đối với Áp-ra-ham cùng con cháu người luôn luôn, 55 như Ngài đã phán cùng tổ phụ chúng ta vậy.

VIII.  KẾT CUỘC:
1.  Ma-ri:  Lu-ca 1:56  Ma-ri ở với Ê-li-sa-bét chừng ba tháng, rồi trở về nhà mình.
2.  Ê-li-sa-bét:  57 Bấy giờ, đến ngày mãn nguyệt, Ê-li-sa-bét sanh được một trai.
3.  Những người xóm giềng bà con của Xa-cha-ri & Ê-li-sa-bét:
a. Vui mừng vì nghe sự thương xót của Chúa:  58 Xóm giềng bà con nghe Chúa tỏ ra sự thương xót cả thể cho Ê-li-sa-bét, thì chia vui cùng người.
b.  Đến ngày thứ tám:  59 Qua ngày thứ tám, họ đều đến để làm lễ cắt bì cho con trẻ; và đặt tên là Xa-cha-ri theo tên của cha.
* Dự lễ cắt bì:  Chung vui.
* Đặt tên con theo tên cha:  Theo truyền thống.
c.  Ê-li-sa-bét không đồng ý:  60 Nhưng mẹ nói rằng: Không! Phải đặt tên con là Giăng (tên theo ý muốn của Chúa đã cho con mình).
d.  Ý nghĩ của những người bà con:  61 Họ nói: Trong bà con ngươi không ai có tên đó. (Ở trong vòng lẩn quẩn).
e.  Hỏi ý kiến của người cha:  62 Họ bèn ra dấu hỏi cha muốn đặt tên gì cho con.
4.  Xa-cha-ri:
a.  Cho biết tên con:  63 Xa-cha-ri biểu lấy bảng nhỏ, và viết rằng: Giăng là tên nó. Ai nấy đều lấy làm lạ.
b.  Được giải cứu:  64 Tức thì miệng người mở ra, lưỡi được thong thả, nói và ngợi khen Đức Chúa Trời.
c.  Mọi người cảm nhận công việc Chúa đang làm cho gia đình này:  65 Hết thảy xóm giềng đều kinh sợ, và người ta nói chuyện với nhau về mọi sự ấy khắp miền núi xứ Giu-đê. 66 Ai nghe cũng ghi vào lòng mà nói rằng: Ấy vậy, con trẻ đó sẽ ra thể nào? Vì tay Chúa ở cùng con trẻ ấy.
d.  Được đầy dẫy Đức Thánh Linh và nói tiên tri:  67 Bấy giờ, Xa-cha-ri, cha con trẻ ấy, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, thì nói tiên tri rằng: (được Chúa bày tỏ).
* Thấy sự thăm viếng của Chúa:  68 Ngợi khen Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì đã thăm viếng và chuộc dân Ngài.
* Đấng Cứu Thế đã đến:  69 Cùng sanh ra cho chúng tôi trong nhà Đa-vít, tôi tớ Ngài, một Đấng Cứu thế có quyền phép!
* Thấy Lời Chúa đã ứng nghiệm:  70 Như Lời Ngài đã dùng miệng các thánh tiên tri phán từ thuở trước.
* Ngài là Đấng giải cứu:  71 Ngài cứu chúng tôi khỏi kẻ thù và tay mọi người ghen ghét chúng tôi.
* Đấng giữ giao ước:  72 Ngài tỏ lòng thương xót đến tổ tông chúng tôi, và nhớ lại lời giao ước thánh của Ngài, 73 theo như Ngài đã thề với Áp-ra-ham là tổ phụ chúng tôi.
* Đấng ban ơn lành:  74 Mà hứa rằng khi chúng tôi đã được cứu khỏi tay kẻ nghịch thù, Ngài sẽ ban ơn lành cho chúng tôi, trước mặt Ngài, 75 Lấy sự thánh khiết và công bình mà hầu việc Ngài, trọn đời mình không sợ hãi gì hết.
* Nói tiên tri về chức vụ của con trai mình:
– Kẻ dọn đường:  76 Hỡi con trẻ, người ta sẽ kêu con là tiên tri của Đấng Rất Cao. Con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường Ngài.
– Để đón nhận Đấng Cứu Rỗi:  77 để cho dân Ngài bởi sự tha tội họ mà biết sự rỗi. 78 Vì Đức Chúa Trời chúng tôi động lòng thương xót, và mặt trời mọc lên từ nơi cao thăm viếng chúng tôi, 79 để soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết, cùng đưa chân chúng tôi đi đường bình an.
5.  Giăng Báp-tít:  80 Vả, con trẻ ấy lớn lên, tâm thần mạnh mẽ, ở nơi đồng vắng cho đến ngày tỏ mình ra cùng dân Y-sơ-ra-ên. (Chuẩn bị cho chức vụ).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

one + 10 =